Việt kiều – người nước ngoài mở nhà hàng ăn tại Việt Nam

(Xây dựng) – Tôi hiện đang sống tại Anh quốc, tôi hiện có nhà hàng tại Anh nhưng hiện nay tôi muốn về Việt Nam mở 1 nhà hàng ẩm thực và mở 1 trang web bán hàng ẩm thực trực tuyến nhưng tôi không biết cần phải lưu tâm đến những quy định pháp luật nào? Kính mong chương trình giải đáp giúp tôi. Trân trọng cảm ơn.

(Đặng Khánh Nam, Anh quốc)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

TH1: Nếu là người không còn có quốc tịch Việt Nam hoặc người nước ngoài thì:

Nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam phải có dự án đầu tư và tiến hành thủ tục đầu tư theo Luật Đầu tư của Việt Nam.

Bên cạnh đó, theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì không hạn chế nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dịch vụ cung cấp thức ăn (CPC 642) và đồ uống (CPC 643) tại Việt Nam nhưng trong 8 năm kể từ ngày gia nhập (7/11/2006), việc cung cấp dịch vụ cần tiến hành song song với đầu tư xây dựng nâng cấp, cải tạo hoặc mua lại khách sạn. Sau đó không hạn chế. Nghĩa là sau ngày 11/7/2014, nhà đầu tư nước ngoài chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện theo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp là có thể kinh doanh dịch vụ nhà hàng tại Việt Nam.

TH2. Nếu là công dân Việt Nam thì:

Không bị hạn chế, chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện theo Luật Doanh nghiệp và điều kiện kinh doanh theo quy định của pháp luật.

Nếu đã đảm bảo điều kiện về đăng ký kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể tiến hành hoạt động bán hàng online thông qua website bán hàng. Chủ thể kinh doanh có thể tự thiết lập một website thương mại điện tử bán hàng hoặc cũng có thể sử dụng website của đơn vị cung cấp dịch vụ thương mại điện tử để phục vụ hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ của mình.

Điều kiện để thiết lập website thương mại điện tử bán hàng là phải có website với tên miền hợp lệ và tuân thủ các quy định về quản lý thông tin trên Internet; phải thông báo với Bộ Công Thương về việc thiết lập website thương mại điện tử bán hàng theo quy định tại Nghị định 52/2013/NĐ-CP và Thông tư 12/2013/TT-BCT.

Luật sư Trịnh Thúy Huyền

Sự kiện bất khả kháng trong hợp đồng giao dịch

(Xây dựng) – Cty chúng tôi là một nhà thầu nhận cung cấp vật liệu và xây dựng một tòa nhà cao tầng. Một lần Cty cung cấp vật liệu cho chúng tôi không thể cung cấp vật liệu đúng thời hạn vì trên biển có bão, họ không thể cho tàu ra khơi để vận chuyển hàng hóa cho chúng tôi, vì vậy dẫn đến chúng tôi bị chậm tiến độ xây dựng.

Chủ đầu tư yêu cầu chúng tôi bồi thường thiệt hại và chịu phạt theo quy định trong hợp đồng. Vậy với tình huống này chúng tôi có thể áp dụng trường hợp bất khả kháng để miễn trừ trách nhiệm của mình không?

(Hoàng Nhật Minh, Ba Vì, Hà Nội)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

Khoản 1, Điều 161 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.

Bão tố là một sự kiện khách quan, không thể lường trước được. Nếu các bạn chứng minh được rằng khi sự việc xảy ra (khi nhận được thông báo của bên cung cấp hàng), các bạn đã áp dụng mọi biện pháp trong khả năng cho phép mà vẫn không thể có được vật liệu, không thể thi công đúng hạn và các bạn đã kịp thời thông báo theo quy định tại hợp đồng cho chủ đầu tư thì các bạn có thể được áp dụng trường hợp bất khả kháng.

Luật sư Đinh Vũ Hòa

Việt kiều sở hữu, sử dụng nhà, đất ở Việt Nam

(Xây dựng) – Tôi có 2 quốc tịch Séc và Việt Nam. Sau một thời gian dài làm ăn sinh sống tại đây, tôi luôn mong muốn được sở hữu một căn nhà ở Việt Nam để sau này có thể trở về an dưỡng tuổi già trên mảnh đất quê hương.

Vậy chúng tôi có thể sở hữu nhà tại Việt Nam không? Tôi nghe nói: Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài cư trú tại Việt Nam từ ba tháng trở lên thì có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam, điều này có đúng không?

(Bùi Thị Hồng, Cộng hòa Séc)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

Căn cứ vào Điều 1 của Luật số 34/2009/QH12 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung Điều 126 của Luật Nhà ở năm 2005 thì người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Việt kiều) có quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau:

* Thứ nhất, phải là những người thuộc nhóm đối tượng sau:

(ii) Người có quốc tịch Việt Nam;

(ii) Người gốc Việt Nam thuộc diện người về đầu tư trực tiếp tại Việt Nam theo pháp luật về đầu tư; người có công đóng góp cho đất nước; nhà khoa học, nhà văn hoá, người có kỹ năng đặc biệt mà cơ quan, tổ chức của Việt Nam có nhu cầu và đang làm việc tại Việt Nam; người có vợ hoặc chồng là công dân Việt Nam sinh sống ở trong nước.

* Thứ hai, những người này phải được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cho phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên.

Riêng đối với những người gốc Việt Nam không thuộc các đối tượng quy định nhưng nếu được cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp Giấy miễn thị thực và được phép cư trú tại Việt Nam từ 3 tháng trở lên thì có quyền sở hữu một nhà ở riêng lẻ hoặc một căn hộ chung cư tại Việt Nam để bản thân và các thành viên trong gia đình sinh sống tại Việt Nam.

Do vậy, nếu ông/bà đáp ứng đủ điều kiện theo quy định thì bà được sở hữu nhà ở tại Việt Nam.

Luật sư Trịnh Thúy Huyền

Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam

(Xây dựng) – Tôi là Dương Ngọc Hà (tên thường gọi hiện nay là Jumiji Shindo). Tôi đang sinh sống và làm việc tại Nhật Bản. Tôi đã nhập quốc tịch Nhật Bản. Hiện tại, tôi đang muốn tìm hiểu một số quy định của pháp luật Việt Nam về lĩnh vực Hợp đồng lao động.

Tôi rất mong chương trình và các luật sư có thể giải đáp thắc mắc giúp tôi.Tôi rất muốn biết, Hợp đồng lao động được ký giữa người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam và người lao động Việt Nam với chủ sử dụng lao động tại Việt Nam hiện nay như thế nào? Với trường hợp của tôi, tôi nên lựa chọn hình thức Hợp đồng lao động nào để phù hợp với việc giữ quốc tịch Nhật Bản.

(Dương Ngọc Hà, Osaka, Nhật Bản)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

Cơ bản Hợp đồng lao động đang được áp dụng đối với lao động người nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng giống, tương đồng với Hợp đồng lao động áp dụng đối với người lao động Việt Nam.

Khoản 3, Điều 12 và Khoản 4, Điều 15 của Nghị định 102/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì: Sau khi có Giấy phép lao động, người sử dụng lao động và người lao động nước ngoài tại Việt Nam phải ký kết với nhau Hợp đồng lao động bằng văn bản theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn về Hợp đồng lao động tính tới nay còn hiệu lực đều áp dụng chung cho cả người lao động nước ngoài và lao động Việt Nam. Phần quy định về Hợp đồng lao động trong những văn bản pháp luật này không có sự phân biệt nhiều giữa người lao động nước ngoài và lao động Việt Nam.

Chính vì vậy, về cơ bản Hợp đồng lao động ký với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam là giống với Hợp đồng lao động ký với người Việt Nam.

Một số điểm khác biệt cần lưu ý khi ký kết Hợp đồng lao động với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam:

1. Hình thức Hợp đồng lao động:

Tại Tiết a, Điểm 1, Phần I của Thông tư 21/2003/TT-BLĐTBXH có quy định “Trường hợp một bên ký kết hợp đồng lao động là người nước ngoài thì nội dung hợp đồng phải bằng tiếng Việt, sau phần tiếng Việt có thể thêm phần tiếng nước ngoài do hai bên thỏa thuận. Nội dung bằng tiếng Việt có giá trị pháp lý.”

Như vậy, về mặt hình thức, Hợp đồng lao động ký với người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có thể có thêm phần tiếng nước ngoài (nội dung tương ứng với tiếng Việt). Tuy nhiên trong mọi trường hợp, phần tiếng Việt là phần có giá trị pháp lý.

2. Nội dung Hợp đồng lao động:

Khoản 3, Điều 12 và Khoản 4, Điều 15 của Nghị định 102/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động năm 2012 về lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì: Nội dung Hợp đồng lao động không được trái với nội dung ghi trong Giấy phép lao động đã được cấp. Như vậy, các nội dung như: Công việc thực hiện, nơi làm việc, thời hạn Hợp đồng phải phù hợp với Giấy phép lao động.

Ngoài ra theo Khoản 2, Điều 115 của Bộ luật Lao động năm 2012 thì: “Lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam ngoài ngày nghỉ lễ theo quy định tại Khoản 1 Điều này còn được nghỉ thêm 01 ngày Tết cổ truyền dân tộc và 01 ngày Quốc khánh của nước họ.”

Vậy thời gian nghỉ lễ, tết của người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam cũng khác so với người lao động Việt Nam.

Một số điểm cần lưu ý khi ký kết Hợp đồng lao động với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

(i) Về thời hạn thỏa thuận trong Hợp đồng lao động khi chủ sử dụng lao động ký kết với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam:

Như đã phân tích ở trên, thời hạn thỏa thuận của Hợp đồng lao động ký với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam phải phù hợp với Giấy phép lao động vì theo quy định tại Điều 11 của Nghị định 102/2013/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động năm 2012 về người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam thì thời hạn tối đa của Giấy phép lao động chỉ là 02 (hai) năm.

(ii) Về đồng tiền thanh toán trong Hợp đồng lao động:

Theo Thông tư 32/2013/TT-NHNN hướng dẫn thực hiện quy định hạn chế sử dụng ngoại hối trên lãnh thổ Việt Nam thì đối với người lao động Việt Nam, người sử dụng lao động phải trả tiền lương, thưởng và các khoản phụ cấp khác bằng tiền Việt Nam; còn đối với người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam, người sử dụng lao động có thể trả các khoản tiền trên bằng ngoại tệ.

Do vậy, với trường hợp của bà, nếu bà muốn giữ Quốc tịch Nhật Bản thì bà nên tham gia lao động tại Việt Nam với tư cách là người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam.

Bên cạnh đó, vì bà là người gốc Việt Nam theo luật Quốc tịch hiện hành của Việt Nam nên nếu bà muốn trở thành “công dân Việt Nam” để được hưởng toàn bộ các quyền, nghĩa vụ như đã phân tích ở trên đối với người lao động Việt Nam thì bà có thể tiến hành thủ tục đăng ký về Việt Nam thường trú theo dạng về hồi hương.

Luật sư Trịnh Thúy Huyền

Xử lý tiền đền bù, hỗ trợ khi gia đình không nhận

(Xây dựng) – Gia đình tôi đã nhận được quyết định thu hồi đất nhưng chưa đồng ý với phương án đền bù. Trong trường hợp gia đình tôi không nhận thì khoản tiền này được giải quyết như thế nào? Nếu gửi vào tài khoản thì tôi có được hưởng lãi từ khoản tiền này hay không?

(Trần Thu Thảo, huyện Đan Phượng, Hà Nội)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

Căn cứ Khoản 3, Điều 93 Luật Đất đai năm 2013 quy định về chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư như sau:

“Trường hợp người có đất thu hồi không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước.”

Như vậy, gia đình nếu không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì tiền bồi thường, hỗ trợ được gửi vào tài khoản tạm giữ của Kho bạc nhà nước. Khoản tiền này không được tính lãi.

Luật sư Vũ Hải Lý

Quy định về việc giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác

(Xây dựng) – Tôi muốn hỏi Pháp luật quy định về việc giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác?

(Nguyễn Đức Thiện, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

Căn cứ Điều 53 Luật Đất đai năm 2013 quy định về việc giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác như sau: Việc Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi đất theo quy định của Luật này và phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật đối với trường hợp phải giải phóng mặt bằng.

Như vậy, việc Nhà nước quyết định giao đất, cho thuê đất đối với đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được thực hiện sau khi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định thu hồi theo quy định của Luật phải thực hiện xong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của Luật.

Luật sư Ngô Thị Lựu

Quy định về chuyển giao công nghệ

(Xây dựng) – Cty tôi đang dự định nhận chuyển giao công nghệ sản xuất hạt giống ngô biến đổi gen của Mỹ. Công nghệ này cho phép nâng cao sản lượng ngô, cây ngô có đặc tính phòng chống sâu bệnh tốt và phù hợp với đặc điểm khí hậu, thổ nhưỡng tại vùng đồng bằng sông Hồng nước ta.

Vậy, chúng tôi cần phải thực hiện những thủ tục hành chính gì?

(Vũ Hải Yến, quận Đống Đa, Hà Nội)


Chuyển giao công nghệ được đánh giá là con đường ngắn nhất để đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất chất lượng.

Trả lời:

Căn cứ Danh mục Công nghệ hạn chế chuyển giao thuộc Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định 133/2008/NĐ-CP được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 103/2011/NĐ-CP (Sau đây gọi tắt là Nghị định 133), công nghệ mà Cty của bà dự định nhận chuyển giao thuộc diện hạn chế chuyển giao.

Vì vậy căn cứ Điều 10 Nghị định 133, trước khi tiến hành ký kết Hợp đồng chuyển giao công nghệ, Cty cần xin chấp thuận chuyển giao công nghệ. Cơ quan có thẩm quyền chấp thuận chuyển giao công nghệ là Bộ Khoa học và Công nghệ.

Căn cứ Khoản 1, Điều 12 Nghị định 133, hồ sơ xin chấp thuận chuyển giao công nghệ gồm:

a) Đơn đề nghị chấp thuận chuyển giao công nghệ (theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định 133);

b) Văn bản về tư cách pháp lý của bên đề nghị: bản sao Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Đăng ký kinh doanh;

c) Tài liệu giải trình về công nghệ theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định 133);

d) Tài liệu giải trình về việc đáp ứng các điều kiện được nhận chuyển giao công nghệ (quy định tại Khoản 1, Điều 10 Nghị định 133).

Thời gian được nhận văn bản chấp thuận chuyển giao công nghệ là 10 ngày làm việc kể từ ngày nộp hồ sơ hợp lệ.

Sau đó, căn cứ Điều 11 Nghị định 133, trong vòng 60 ngày kể từ ngày ký Hợp đồng chuyển giao công nghệ, Cty cần làm thủ tục xin cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ. Hợp đồng chuyển giao công nghệ chỉ có hiệu lực từ thời điểm được cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ là Bộ Khoa học và Công nghệ.

Căn cứ Khoản 2, Điều 12 Nghị định 133, hồ sơ xin cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ gồm:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định 133);

b) Văn bản về tư cách pháp lý của các bên tham gia hợp đồng: Bản sao Giấy chứng nhận đầu tư hoặc Đăng ký kinh doanh hoặc Giấy phép phù hợp ngành nghề được hoạt động; Giấy xác nhận tư cách pháp lý đối với người đại diện, ký tên trong hợp đồng;

c) Văn bản chấp thuận chuyển giao công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ;

d) Bản gốc hoặc bản sao có công chứng Hợp đồng chuyển giao công nghệ bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài. Hợp đồng phải được các bên ký kết, đóng dấu và có chữ ký tắt của các bên, đóng dấu giáp lai vào các trang của hợp đồng và phụ lục nếu một trong các bên tham gia hợp đồng là tổ chức;

đ) Danh mục tài liệu công nghệ, máy móc, thiết bị, phương tiện kỹ thuật (nếu có) kèm theo hợp đồng chuyển giao công nghệ;

e) Trong trường hợp có sử dụng vốn nhà nước phải gửi kèm văn bản của cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư nhất trí với nội dung chuyển giao công nghệ và giá ước tính cho công nghệ được chuyển giao.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm thẩm định, cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ.

Nếu có yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ xin cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ thì trong thời hạn 60 ngày làm việc, Cty của bà cần phải sửa đổi, bổ sung hồ sơ theo yêu cầu, nếu không hồ sơ xin cấp Giấy phép chuyển giao công nghệ sẽ hết hiệu lực.

Luật sư Đinh Vũ Hòa

Con riêng có quyền hưởng di sản thừa kế?

(Xây dựng) – Bố tôi mất cách đây 1 năm nhưng không để lại di chúc. Bố và mẹ tôi có tôi là con gái duy nhất nhưng ngoài tôi, bố tôi còn có một người con riêng kém tôi 6 tuổi. Vậy khi bố tôi chết, người con riêng đó có được quyền tranh chấp tài sản với tôi không?

(Đặng Kim Anh, quận Hà Đông, Hà Nội)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

Bố bà mất không để lại di chúc nên theo quy định của pháp luật, di sản thừa kế của bố bà sẽ được chia theo pháp luật.

Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định người thừa kế theo pháp luật cụ thể như sau: “Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây: Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết”.

Ngoài ra, theo Khoản 2, Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau”.

Như vậy, theo các quy định nêu trên thì người con riêng của bố bà thuộc hàng thừa kế thứ nhất và có quyền hưởng phần di sản bằng với các đồng thừa kế khác trong khối di sản thừa kế của bố bà.

Luật sư Đào Thị Dung

Hợp đồng góp vốn dự án nhà chung cư

(Xây dựng) – Tôi là một cá nhân đang đầu tư mua một số căn hộ trong dự án xây dựng nhà ở. Chủ đầu tư có đề nghị tôi góp vốn vào dự án thông qua hình thức ký kết các hợp đồng hợp tác đầu tư để sau đó được phân chia sản phẩm là nhà ở trên cơ sở tỷ lệ vốn góp theo thỏa thuận ban đầu.

Vậy tôi xin hỏi theo quy định của pháp luật hiện nay, điều kiện để chủ đầu tư được huy động vốn theo hình thức này như thế nào?

(Nguyễn Nam Giang, quận Ba Đình, Hà Nội)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 71/2010/NĐ-CP ngày 23/6/2010 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở năm 2005 thì: Trường hợp chủ đầu tư dự án phát triển khu nhà ở, dự án khu đô thị mới (chủ đầu tư cấp I) có nhu cầu huy động vốn để đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật đối với phần diện tích xây dựng nhà ở và đầu tư xây dựng nhà ở trong khu nhà ở, khu đô thị đó thì chủ đầu tư chỉ được ký hợp đồng, văn bản góp vốn hoặc hợp đồng, văn bản hợp tác đầu tư sau khi đã có dự án phát triển nhà ở được phê duyệt, đã thực hiện khởi công xây dựng công trình nhà ở và đã thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở.

Việc phân chia sản phẩm là nhà ở thì chủ đầu tư chỉ được phân chia tối đa cho các hình thức huy động vốn không quá 20% số lượng nhà ở trong mỗi dự án (tính trên tổng số lượng nhà ở thương mại của dự án cấp I hoặc dự án phát triển nhà ở độc lập không phải là dự án cấp II) không phải thông qua sàn giao dịch bất động sản, nhưng phải thông báo cho Sở Xây dựng nơi có dự án phát triển nhà ở để xác nhận.

Luật sư Trịnh Thúy Huyền

Trình tự, thủ tục thành lập Văn phòng điều hành dự án

(Xây dựng) – Chúng tôi là một nhà thầu nước ngoài thực hiện dự án xây dựng tại Việt Nam, chúng tôi đã được cấp Giấy phép nhà thầu và hiện đang muốn thành lập văn phòng điều hành dự án. Vậy xin Quý báo cho biết thủ tục thành lập Văn phòng điều hành dự án theo quy định của pháp luật?

(Hà Công Quyền, Hà Nội)


Ảnh minh họa.

Trả lời:

(i) Căn cứ Khoản 1, Điều 7 Thông tư số 01/2012/TT-BXD quy định về địa điểm lập đặt trụ sở Văn phòng điều hành dự án thì:

– Đối với các hợp đồng thực hiện lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình nhà thầu có thể lập Văn phòng điều hành tại nơi đăng ký trụ sở của chủ dự án;

– Đối với hợp đồng thực hiện thi công xây dựng, giám sát thi công xây dựng công trình đi qua nhiều tỉnh, nhà thầu có thể lập Văn phòng điều hành tại một địa phương có công trình đi qua để điều hành thực hiện công việc.

(ii) Căn cứ Điều 7 Thông tư số 01/2012/TT-BXD ngày 08/5/2012 của Bộ Xây dựng và Công văn số 438/BXD-XL về Đăng ký Văn phòng điều hành công trình của nhà thầu nước ngoài do Bộ Xây dựng ban hành ngày 17/3/2008 quy định về trình tự thủ tục thì:

– Sau khi nhận được giấy phép thầu, nhà thầu gửi Đơn đăng ký Văn phòng điều hành (theo mẫu ban hành kèm theo công văn số 438/BXD-XL về Đăng ký Văn phòng điều hành công trình của nhà thầu nước ngoài do Bộ Xây dựng ban hành ngày 17/3/2008) và Bản sao có chứng thực giấy phép thầu đến Sở Xây dựng nơi có dự án nhận thầu.

– Trong thời gian 5 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn đăng ký của nhà thầu, Sở Xây dựng có trách nhiệm cấp Giấy xác nhận đăng ký Văn phòng điều hành công trình cho nhà thầu.

– Lệ phí: không áp dụng.

– Sau khi thực hiện xong việc đăng ký các nội dung của Văn phòng điều hành, nhà thầu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản (theo phụ lục số Phụ lục 11 Ban hành kèm theo Thông tư số 01/2012/TT-BXD ngày 08/5/2012 của Bộ Xây dựng) cho: Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, UBND cấp tỉnh nơi đật trụ sở Văn phòng điều hành; Sở Xây dựng nơi đặt trụ sở Văn phòng điều hành.

Luật sư Trịnh Thúy Huyền